Đồng Nai: Kiến nghị kiểm sát việc tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm

Ông Đào Minh Nhật (SN: 1992; Địa chỉ: phường Tân Hòa, thành phố Biên Hòa (nay là phường (nay là phường Hố Nai), TP. Đồng Nai vừa có đơn phản ánh, kiến nghị gửi Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai, đề nghị kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm liên quan đến căn nhà tại phường Hố Nai, đồng thời xem xét Quyết định tạm đình chỉ số 6053/QĐ-CSĐT-ĐTTH ngày 22/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa (cũ).

Theo nội dung đơn, vụ việc bắt đầu từ ngày 4/3/2024, khi ông Nhật gửi đơn tố giác liên quan đến bà Nguyễn Thị Ngọc (sinh năm 1965). Người làm đơn cho rằng bà Ngọc đã tự ý phá khóa và tiếp tục quản lý, sử dụng căn nhà số 140A/6, thuộc thửa đất số 298, tờ bản đồ số 9, phường Hố Nai, thành phố Đồng Nai, trước đây thuộc phường Tân Hòa – thuộc sở hữu hợp pháp của ông Nhật.

Đề nghị làm rõ việc quản lý, sử dụng căn nhà

Theo trình bày của ông Nhật, căn nhà nói trên là tài sản ông nhận chuyển nhượng từ bà Mai Thị Thúy Hạnh. Giao dịch được ông cho biết đã được thực hiện tại phòng công chứng và đăng ký biến động, cập nhật vào hồ sơ địa chính.

nha-nhat-1790656986.jpg
Theo ông Nhật, hiện tại bà Nguyễn Thị Ngọc đang xâm phạm chỗ ở của người khác.

Đơn cũng nêu, trước đó bà Nguyễn Thị Ngọc đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Mai Thị Thúy Hạnh và sau đó cơ quan công an cũng đã xóa đăng ký thường trú của bà Ngọc tại địa chỉ căn nhà.

dat-nhat-2-1790658014.jpg
nhat-dat-1790657432.jpg

Bà Nguyễn Thị Ngọc đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Mai Thị Thúy Hạnh và sau đó bà Hạnh đã chuyển nhượng QSD đất cho vợ chồng ông Đào Minh Nhật.

nhat-dat-1-1790657677.jpg

Vợ chồng ông Đào Minh Nhật cũng đã thế chấp bằng QSDĐ và Tài sản gắn liền với đất tại Ngân hàng TNHH MTV WOORI Việt Nam - Chi nhánh Đồng Nai.

Từ những tình tiết trên, ông Nhật cho rằng việc bà Ngọc phá khóa và tiếp tục ở, quản lý căn nhà cần được cơ quan chức năng xem xét, làm rõ theo quy định pháp luật, trong đó có dấu hiệu liên quan đến hành vi “Xâm phạm chỗ ở của người khác” được quy định tại Điều 158 Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên, nội dung trên là ý kiến và kiến nghị của người làm đơn. Việc hành vi có đủ dấu hiệu của tội phạm hay không vẫn cần được cơ quan có thẩm quyền xác minh, đánh giá trên cơ sở hồ sơ và các chứng cứ liên quan.

Nguồn tin được tạm đình chỉ từ năm 2024

Theo đơn, ngày 22/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa (cũ) ban hành Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm số 6053/QĐ-CSĐT-ĐTTH.

Người làm đơn cho biết lý do được đưa ra liên quan đến việc đưa ông Mai Hoàng Sang vào vụ việc để xác minh. Ông Nhật cho rằng việc việc Cơ quan CSĐT đưa ông Mai Hoàng Sang vào vụ việc để làm lý do tạm đình chỉ là vô căn cứ. Ông Nhật cho rằng việc xác minh liên quan đến ông Mai Hoàng Sang không liên quan trực tiếp đến nội dung tố giác và đề nghị cơ quan chức năng làm rõ căn cứ của việc tạm đình chỉ.

Theo trình bày trong đơn, từ ngày 30/9/2025, hồ sơ vụ việc được bàn giao trực tiếp cho điều tra viên được bố trí tại Công an phường Hố Nai để tiếp tục thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Đáng chú ý, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố được cho là đã phát nhiều phiếu chuyển đơn để đôn đốc xử lý, gồm Phiếu số 618 ngày 11/5/2026, Phiếu số 1090 ngày 17/5/2026 và Phiếu số 1100 ngày 11/6/2026.

Theo đơn, lãnh đạo Công an thành phố cũng có ý kiến yêu cầu báo cáo kết quả trước ngày 21/6/2026. Tuy nhiên, đến ngày 13/7/2026, Công an phường Hố Nai mới ban hành Thông báo số 95/TB-CAP trả lời rằng khi có căn cứ phục hồi sẽ tiến hành giải quyết.

Đề nghị rà soát toàn bộ hồ sơ

Trong đơn gửi Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai, ông Nhật đề nghị cơ quan kiểm sát rà soát toàn bộ hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm liên quan đến Quyết định số 6053/QĐ-CSĐT-ĐTTH ngày 22/7/2024.

Đồng thời, ông đề nghị xem xét căn cứ của quyết định tạm đình chỉ; trường hợp nhận thấy không còn căn cứ hoặc căn cứ không phù hợp thì đề nghị yêu cầu phục hồi việc giải quyết nguồn tin, tiếp tục xác minh và xử lý theo quy định pháp luật.

Kèm theo đơn, ông Nhật cho biết đã cung cấp bản sao hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Quyết định tạm đình chỉ số 6053/QĐ-CSĐT-ĐTTH, Phiếu chuyển đơn số 1100/PC-PC01 ngày 11/6/2026 và Thông báo số 95/TB-CAP ngày 13/7/2026 và các hình ảnh bằng chứng liên quan.

Vụ việc kéo dài đã hơn 2 năm,  hiện được người làm đơn đề nghị Viện kiểm sát xem xét trên cơ sở toàn bộ hồ sơ, tài liệu và các tình tiết liên quan. Việc xác định bản chất vụ việc, cũng như có hay không dấu hiệu của tội phạm, thuộc thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng sau khi tiến hành xác minh, đánh giá đầy đủ theo quy định pháp luật.

Hình thức xử lý đối với tội xâm phạm chỗ ở của người khác?

Bạn đọc Danh Hòa ở xã Ninh Quới A, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu hỏi: Đề nghị tòa soạn cho biết, hình thức xử lý đối với tội xâm phạm chỗ ở của người khác?

Trả lời: Nội dung bạn hỏi được quy định tại Điều 158 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cụ thể như sau:

Tội xâm phạm chỗ ở của người khác:

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm chỗ ở của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm:

a) Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác;

b) Đuổi trái pháp luật người khác ra khỏi chỗ ở của họ;

c) Chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ;

d) Xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội 2 lần trở lên;

d) Làm người bị xâm phạm chỗ ở tự sát;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

* Bạn đọc Đỗ Đình Thắng ở xã Bắc Lương, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa hỏi: Đề nghị tòa soạn cho biết, quy định của pháp luật nghiêm cấm công dân đi làm việc ở nước ngoài hoặc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đối với những công việc nào?

Trả lời: Nội dung bạn hỏi được quy định tại khoản 12 Điều 7 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020. Cụ thể như sau:

a) Công việc mát-xa tại nhà hàng, khách sạn hoặc trung tâm giải trí;

b) Công việc phải tiếp xúc thường xuyên với chất nổ; chất độc hại trong luyện quặng kim loại màu (đồng, chì, thủy ngân, bạc, kẽm); tiếp xúc thường xuyên với măng-gan, đi-ô-xít thủy ngân;

c) Công việc tiếp xúc với nguồn phóng xạ hở, khai thác quặng phóng xạ các loại;

d) Công việc sản xuất, bao gói phải tiếp xúc thường xuyên với hóa chất axít ni-tơ-rích, na-tơ-ri xun-phát, đi-xun-phua các-bon hoặc thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc diệt chuột, thuốc sát trùng, thuốc chống mối mọt có độc tính mạnh;

đ) Công việc săn bắt thú dữ, cá sấu, cá mập;

e) Công việc thường xuyên ở nơi thiếu không khí, áp suất lớn (dưới lòng đất, lòng đại dương);

g) Công việc liệm, mai táng tử thi, thiêu xác chết, bốc mồ mả.

Theo báo QĐND

Tội xâm phạm chỗ ở của người khác (Điều 158 BLHS)

 

Tội xâm phạm chỗ ở của người khác là hành vi cố ý xâm phạm chỗ ở của người khác trái pháp luật. Hành vi phạm tội này xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của con người, của công dân là quyền dân sự cơ bản của con người, của công dân đã được Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định tại Điều 22. Tội xâm phạm chỗ ở của người khác bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 158 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

  1. Căn cứ pháp lý 

Căn cứ Điều 158 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về tội xâm phạm chỗ ở của người khác: 

“Điều 158. Tội xâm phạm chỗ ở của người khác

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm chỗ ở của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác;

b) Đuổi trái pháp luật người khác ra khỏi chỗ ở của họ;

c) Chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ;

d) Xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Làm người bị xâm phạm chỗ ở tự sát;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

2. Dấu hiệu cấu thành tội phạm tội xâm phạm chỗ ở của người khác

2.1. Chủ thể

Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự thì người thực hiện tội xâm phạm trái pháp luật chỗ ở của người khác có thể là bất kì ai (công dân Việt Nam, người nước ngoài hoặc người không quốc tịch) từ đủ 16 tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự (có năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi).

2.2. Khách thể

Các hành vi kể trên đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân (Điều 22 Hiến pháp 2013), ở đây là người có nhà bị người khác xâm nhập trái phép.

 

2.3. Mặt khách quan

Tội xâm phạm chỗ ở của người khác thể hiện qua 04 hành vi chính như sau:

Thứ nhất, hành vi khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác.

Khám xét trái pháp luật là hoạt động khám xét nơi ở của người khác khi trái với quy định tại Điều 192, Điều 193, Điều 195 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Điều 192 quy định về căn cứ khám xét chỗ ở như sau:

  • Việc khám xét chỗ ở chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.
  • Việc khám xét chỗ cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân.

Thứ hai, hành vi đuổi trái pháp luật người khác ra khỏi chỗ ở của họ.

  • Hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc sử dụng các thủ đoạn khác buộc người khác phải rời khỏi chỗ ở của họ trái với ý chí của người đó. Ngoại trừ những trường hợp thực hiện các quyết định về cưỡng chế, thu hồi,… theo quyết định của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhưng phải đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật.
  • Lưu ý: Nếu việc thực hiện các quyết định về cưỡng chế, thu hồi…không tuân thủ các quy định của pháp luật cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm chỗ ở của người khác.

Thứ ba, hành vi chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ.

  • Dùng mọi thủ đoạn để chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ.
  • Ví dụ: Tự ý mang đồ đạc vào chỗ ở của người khác, vứt đồ đạc người khác ra; ngăn cản không cho người đang ở hoặc quản lý hợp pháp chỗ ở vào chỗ đang ở, …

Thứ tư, hành vi xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác.

  • Hành vi tự ý xâm nhập vào chỗ ở của người khác mà không được sự đồng ý hay cho phép của người đó.
  • Ví dụ: Đột nhập vào chỗ ở của người khác (lẻn vào nhà người khác bằng cửa sổ, …)

2.4. Mặt chủ quan

Tội xâm phạm chỗ ở của người khác được thực hiện do lỗi cố ý (có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp). Người phạm tội nhận thức rõ mức độ nguy hiểm từ hành vi của mình, nhìn thấy trước hậu quả nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội.

3. Khung hình phạt tội phạm tội xâm phạm chỗ ở 

– Khung 01: Phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng – 02 năm trong trường hợp sử dụng một trong các hành vi dưới đây xâm nhập chỗ ở của người khác:

Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác;

Đuổi trái pháp luật người khác ra khỏi chỗ ở của họ;

Chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ;

Xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác.

– Khung 02: Phạt tù từ 01 – 05 năm nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp:

Có tổ chức;

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

Phạm tội 02 lần trở lên;

Làm người bị xâm phạm chỗ ở tự sát;

Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

– Hình phạt bổ sung: Trường hợp người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 – 05 năm.

 

Hiện tại VKSND TP. Đồng Nai khu vực 3 cũng đã nhận đơn kiến nghị của vợ chồng ông Đào Minh Nhật và sẽ xử lý theo đúng trình tự của pháp luật.

 

 

P.V

 

 

Đặt mua Tạp chí Môi trường