Sau khi tự nguyện lập văn bản từ chối nhận di sản của người con đã mất, ông bà yêu cầu Tòa án hủy văn bản để nhận lại phần thừa kế vì không hài lòng với cách cư xử của con dâu và cháu nội. Tuy nhiên, Tòa án không chấp nhận yêu cầu này, đồng thời làm rõ giá trị pháp lý của văn bản từ chối nhận di sản đã được công chứng.

ảnh: minh hoạ
Thay đổi ý chí sau nhiều năm, yêu cầu hủy văn bản từ chối nhận di sản
Trong một vụ án tranh chấp thừa kế được giải quyết tại Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh, ông T4 và bà L1 yêu cầu hủy văn bản từ chối nhận di sản của người con đã mất là ông Trần Thành T7, được lập ngày 22/3/2019 tại Văn phòng công chứng C.
Theo nội dung nhận định tại mục 3.3 của bản án, ông T4 và bà L1 cho rằng ban đầu, ông bà tự nguyện từ chối nhận phần di sản của con trai nhằm bù đắp những rủi ro, mất mát mà con dâu và các cháu nội phải gánh chịu. Tuy nhiên, sau đó, do không hài lòng với thái độ cư xử của con dâu và cháu nội, ông bà thay đổi ý chí và muốn nhận lại phần di sản thừa kế.
Một trong những lý do được đưa ra là bà H cùng hai người con chưa hoàn tất việc đăng ký biến động, sang tên trên Giấy chứng nhận. Theo ông T4 và bà L1, việc chưa cập nhật tên chủ sở hữu đồng nghĩa với việc giao dịch tặng cho chưa hoàn thành, vì vậy ông bà vẫn có quyền rút lại ý định ban đầu.
Tuy nhiên, Tòa án không chấp nhận lập luận này.
Văn bản từ chối nhận di sản có hiệu lực theo Bộ luật Dân sự
Để giải quyết yêu cầu, Tòa án viện dẫn Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015 về từ chối nhận di sản.
Theo quy định này, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với người khác. Việc từ chối phải được lập thành văn bản, gửi đến những người và chủ thể liên quan theo quy định, đồng thời phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.
Đối chiếu với vụ án, Tòa án xác định ông T4 và bà L1 đã tự nguyện lập văn bản từ chối nhận di sản ngày 22/3/2019 và thực hiện theo đúng thủ tục pháp luật. Vì vậy, văn bản này có hiệu lực pháp luật.
Đáng chú ý, Tòa án không xem xét văn bản trên đơn thuần như một lời hứa tặng cho tài sản có thể rút lại khi quan hệ gia đình phát sinh mâu thuẫn. Đây là văn bản từ chối nhận di sản, có căn cứ pháp lý và hậu quả pháp lý riêng theo Bộ luật Dân sự.
Khi người thừa kế đã thực hiện việc từ chối hợp pháp, việc thay đổi ý chí về sau không đương nhiên làm mất hiệu lực của văn bản đã lập.
Chưa sang tên không đồng nghĩa với việc vẫn còn quyền hưởng di sản
Lập luận thứ hai của ông T4 và bà L1 liên quan đến việc chưa hoàn tất đăng ký biến động đất đai, nhà ở và tài sản gắn liền với đất.
Tòa án xem xét quy định tại Điều 95 Luật Đất đai năm 2013 về đăng ký đất đai, đăng ký quyền sở hữu nhà ở và đăng ký biến động; đồng thời viện dẫn khoản 4 Điều 12 Luật Nhà ở năm 2014 về thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở trong trường hợp thừa kế.
Theo Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Điều 614 của Bộ luật này quy định kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.
Từ các quy định trên, Tòa án xác định quyền thừa kế phát sinh theo pháp luật về thừa kế, không thể chỉ căn cứ vào việc đã hay chưa hoàn thành thủ tục đăng ký sang tên để kết luận rằng người đã từ chối nhận di sản vẫn còn quyền hưởng phần di sản đó.
Trong vụ việc, sau khi có văn bản từ chối nhận di sản của ông T4 và bà L1, bà H cùng hai người con đã lập văn bản khai nhận di sản thừa kế ngày 7/6/2019 tại Văn phòng công chứng C.
Tòa án ghi nhận văn bản khai nhận di sản này được các bên thừa nhận, không có yêu cầu hủy bỏ hoặc tuyên vô hiệu vì vi phạm pháp luật hay kê khai gian dối, và đã phát sinh hiệu lực từ thời điểm công chứng theo nhận định của bản án.
Do đó, việc chưa hoàn tất đăng ký biến động không phải là căn cứ để mặc nhiên khôi phục quyền hưởng di sản mà ông T4 và bà L1 đã từ chối trước đó.
Muốn hủy văn bản đã công chứng phải tuân thủ điều kiện pháp luật
Một căn cứ quan trọng khác được Tòa án viện dẫn là Điều 51 Luật Công chứng năm 2014 về sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng.
Theo quy định được áp dụng trong vụ án, việc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã công chứng phải có sự thỏa thuận, cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã tham gia hợp đồng, giao dịch đó; đồng thời phải được thực hiện theo thủ tục luật định tại tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng.
Trong vụ án này, ông T4 và bà L1 không lập văn bản hủy bỏ văn bản từ chối nhận di sản ngày 22/3/2019 tại Văn phòng công chứng C theo thủ tục nêu trên.
Trên cơ sở đó, Tòa án xác định yêu cầu hủy bỏ văn bản từ chối nhận di sản của ông T4 và bà L1 là không có căn cứ chấp nhận.
Cần lưu ý rằng quy định về hủy bỏ văn bản công chứng không có nghĩa mọi văn bản công chứng đều tuyệt đối không thể bị Tòa án xem xét về hiệu lực. Trường hợp có căn cứ cho rằng giao dịch vi phạm điều kiện có hiệu lực, có tranh chấp về tính tự nguyện hoặc có vi phạm pháp luật khác, việc giải quyết phải căn cứ vào bản chất yêu cầu và quy định pháp luật tương ứng. Không nên đồng nhất thủ tục hủy bỏ theo sự thỏa thuận với việc yêu cầu Tòa án tuyên giao dịch vô hiệu.
Bài học người thừa kế
Từ vụ án, có thể rút ra ba vấn đề đáng chú ý.
Thứ nhất, phải xác định đúng bản chất pháp lý của văn bản. Từ chối nhận di sản không đồng nghĩa với tặng cho phần di sản cho một người cụ thể. Người lập văn bản cần hiểu rõ hậu quả pháp lý trước khi ký, nhất là khi mục đích thực sự là để lại tài sản cho con dâu hoặc cháu nội.
Thứ hai, không thể mặc nhiên lấy việc chưa sang tên làm căn cứ khôi phục quyền thừa kế đã từ chối hợp pháp. Cần phân biệt thời điểm phát sinh quyền thừa kế, hiệu lực của văn bản từ chối nhận di sản, hiệu lực của văn bản khai nhận hoặc phân chia di sản và thủ tục đăng ký quyền đối với bất động sản.
Thứ ba, công chứng viên cần giải thích rõ hậu quả của việc từ chối nhận di sản. Khi tiếp nhận hồ sơ, cần làm rõ ý chí của người yêu cầu: họ thực sự không muốn nhận di sản hay muốn chuyển phần tài sản cho một người cụ thể. Nếu mục đích là chuyển quyền cho một người xác định, cần hướng dẫn lựa chọn hình thức pháp lý phù hợp thay vì sử dụng văn bản từ chối nhận di sản như một phương thức thay thế cho giao dịch tặng cho.
Vụ việc cũng cho thấy những thỏa thuận được lập trong bối cảnh tình cảm gia đình có thể phát sinh tranh chấp khi quan hệ giữa các thành viên thay đổi. Vì vậy, việc lập văn bản cần dựa trên ý chí tự nguyện, sự hiểu biết đầy đủ về hậu quả pháp lý và hình thức giao dịch phù hợp.
Nguồn tham khảo: Bản án số 24/2025/DS-ST ngày 17/01/2025 của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh, mục 3.3 về yêu cầu hủy văn bản từ chối nhận di sản; Điều 611, 614, 620 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 95 Luật Đất đai năm 2013; khoản 4 Điều 12 Luật Nhà ở năm 2014; Điều 51 Luật Công chứng năm 2014.
Tra cứu bản án: https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta1766103t1cvn/chi-tiet-ban-an.
Vô Phương